Bài 13. Lợi nhuận sau thuế

Sau khi lấy doanh thu của công ty trừ đi tất cả chi phí và thuế, chúng ta sẽ có lợi nhuận sau thuế. Đây là nơi chúng ta nhìn thấy công ty làm ra được bao nhiêu tiền sau khi trả thuế thu nhập doanh nghiệp. Khi nhìn vào con sô’ này, Warren đã chú ý một số điểm để quyết định liệu công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững hay không. Do đó, chúng ta sẽ xem qua các chú ý đó chứ chưa bắt đầu ngay.

Lợi nhuận sau thuế

Lợi nhuận sau thuế

Chú ý đầu tiên của Warren là liệu lợi nhuận sau thuế có thể hiện một xu hướng tăng trưởng từ trước đến giờ không. Với ông, con số lợi nhuận sau thuế trong một năm đơn lẻ rất vô nghĩa; ông chỉ quan tâm liệu có sự nhất quán trong bức tranh lợi nhuận hay không và liệu xu hướng dài hạn có tăng trưởng không – cả hai có thể được xem là tương đương với “sự bền vững” của lợi thế cạnh tranh. Warren cho rằng xu hướng không cần phải đều đặn, cái ông tìm kiếm là xu hướng tăng trưởng từ quá khứ.

Nhưng hãy lưu ý: Do có các chương trình mua cể phiếu quỹ (share repurchase programs) nên xu hướng lợi nhuận sau thuế trong quá khứ của một công ty có thể khác với xu hướng thu nhập trên mỗi cổ phiếu. Các chương trình mua cổ phiếu quỹ sẽ giúp tăng thu nhập trên mỗi cổ phiếu bằng cách giảm số lượng cổ phiếu đang lưu hành. Một công ty giảm số cổ phiếu đang lưu hành, nghĩa là sô’ cổ phiếu được sử dụng để chia lợi nhuận sau thuế của công ty cũng giảm, lần lượt làm tăng thu nhập trên mỗi cổ phiếu mặc dù lợi nhuận sau thuế thực tế không tăng. Trong các ví dụ cực đoan, thậm chí chương trình mua cổ phiếu quỹ của công ty có thể làm thu nhập trên mỗi cổ phiếu tăng lên, trong khi lợi nhuận sau thuế của công ty lại giảm.

Mặc dù hầu hết các phân tích tài chính đều tập trung vào con số thu nhập trên mỗi cổ phiếu, Warren lại nhìn vào lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp để xem điều gì thật sự xảy ra.

Warren đã học được rằng các công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững sẽ có tỷ lệ lợi nhuận sau thuế so với tổng doanh thu cao hơn các đối thủ cạnh tranh. Warren đã nói rằng nếu được lựa chọn việc sở hữu giữa một công ty có lợi nhuận 2 tỷ USD trên 10 tỷ USD tổng doanh thu, hoặc một công ty tạo ra 5 tỷ USD lợi nhuận trên 100 tỷ USD doanh thu, ông sẽ chọn công ty tạo được 2 tỷ USD. Đó là vì công ty có lợi nhuận sau thuế 2 tỷ USD đang có lợi nhuận chiếm 20% tổng doanh thu, trong khi với công ty thu được 5 tỷ USD thì tỷ lệ này chỉ có 5%.

Như vậy, trong khi con số tổng doanh thu cho chúng ta biết rất ít về đặc điểm kinh tế của doanh nghiệp, thì tỷ lệ của nó so với lợi nhuận sau thuế có thể cung cấp nhiều thông tin để so sánh với các doanh nghiệp khác.

Một doanh nghiệp tuyệt vời như Coca-Cola có lợi nhuận chiếm 21% tổng doanh thu, và Moody’s có tỷ lệ đáng ngạc nhiên 31%, những con số đã phản ánh ưu thế kinh tế cơ bản của các doanh nghiệp này. Một công ty như Southwest Airlines có lợi nhuận xoàng xĩnh 7% cũng đã phản ánh tính cạnh tranh cao của ngành hàng không, trong đó không một hãng hàng không nào có lợi thế cạnh tranh dài hạn so với các đối thủ. Ngược lại, General Motors, thậm chí trong một năm kinh doanh tốt, không bị thua lỗ, cũng chỉ có lợi nhuận 3% trên tổng doanh thu. Đây là dấu hiệu của nền kinh tế tệ hại vốn có của ngành công nghiệp sản xuất ô tô mang tính cạnh tranh quá cao.

Ở Mỹ, một nguyên tắc đơn giản (và có các ngoại lệ) là nếu một công ty đang cho thấy lịch sử lợi nhuận sau thuếtrong quá khứ chiếm hơn 20% tổng doanh thu thì có nhiều khả năng là công ty đang được hưởng lợi từ một số lợi thế cạnh tranh dài hạn. Tương tự, nếu lợi nhuận sau thuế của một công ty luồn dưới 10% tổng doanh thu — hoặc có xu hướng như vậy — thì nghĩa là nó đang kinh doanh trong một ngành cố tính cạnh tranh cao, khi không một công ty nào có lợi thế cạnh tranh bền vững. Tất nhiên nguyên tắc này chưa bao quát được các công ty có lợi nhuận chiếm từ 10% đến 20% tổng doanh thu, vốn là các công ty có mỏ vàng trong kinh doanh sẵn sàng chờ khai thác mà chưa ai phát hiện ra.

Một trong những ngoại lệ của quy tắc này là các ngân hàng và công ty tài chính. Với các định chế này, nếu có tỷ lệ lợi nhuận sau thuế so với tổng doanh thu cao bất thường thì thường có nghĩa là bộ phận quản lý rủi ro đã chểnh mảng. Trong khi nhìn có vẻ hấp dẫn, các con số thực sự đã cho thấy ngân hàng chấp nhận rủi ro cao hơn để kiếm được nhiều tiền hơn, mà trong trò chơi cho vay thì đây là một phương pháp kiếm tiền nhanh chóng nhưng cái giá phải trả trong dài hạn là quá lớn. Và vướng vào các thảm họa tài chính không phải là một cách làm giàu.

(Nguồn sưu tầm)

GỬI BÌNH LUẬN BẰNG FACEBBOOK

BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ