Bài 14: Thu nhập (lợi nhuận) trên mỗi cổ phiếu (EPS)

Thu nhập (lợi nhuận) trên mỗi cổ phiếu  (EPS): là cách để phân biệt người chiến thắng và kẻ thua

Thu nhập (lợi nhuận) trên mỗi cổ phiếu  (EPS): là lợi nhuận sau thuế của công ty tính trên cơ sở từng cổ phiếu cho một khoảng thời gian nhất định. Đây là một con sốcó ý nghĩa lớn trong thế giới đầu tư vì trên nguyên tắc, thu nhập trên mỗi cổ phiếu càng cao bao nhiêu thì giá chứng khoán của công ty càng cao bấy nhiêu. Để xác định con số này, chúng ta lấy lợi nhuận sau thuế của công ty chia cho số cổ phần đang lưu hành. Ví dụ: Nếu một công ty có lợi nhuận thuần là 10 triệu USD một năm, và đang lưu hành 1 triệu cể phần, vậy thì thu nhập (lợi nhuận) trên mỗi cổ phiếu (EPS) của công ty này là 10 USD.

Trong khi không một con số thu nhập trên mỗi cổ phiếu ở một năm riêng lẻ có thể được sử dụng để nhận diện công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững, thì dãy số thu nhập trên mỗi cổ phiếu trong mười năm có thể cho chúng ta biết một bức tranh rõ ràng liệu công ty đang có lợi thế cạnh tranh dài hạn và đang kinh doanh trong lĩnh vực quen thuộc hay không. Những gì Warren tìm kiếm là sự nhất quán và xu hướng tăng trưởng trong bức tranh thu nhập trên mỗi cổ phiếu qua mười năm.

Bạn sẽ được đọc một báo cáo như sau:

(Đơn vị: USD)

Năm 2008: 2,95

Năm 2007: 2,68

Năm 2006: 2,37

Năm 2005: 2,17

Năm 2004: 2,06

Năm 2003: 1,95

Năm 2002: 1,65

Năm 2001: 1,60

Năm 2000: 1,48

Năm 1999 :1,30

Năm 1998: 1,42

Báo cáo này cho Warren thấy rằng công ty có lợi nhuận ổn định với xu hướng tăng – một dấu hiệu tuyệt vời cho thây công ty đang được xem xét có sở hữu một dạng lợi thế cạnh tranh dài hạn nào đó và đang kinh doanh trong lĩnh vực quen thuộc. Lợi nhuận ổn định thường là một dấu hiệu cho thấy công ty đang bán một sản phẩm hay một hỗn hợp sản phẩm không cần phải chi nhiều tiền để thay đểi hay cải tiến. Lợi nhuận có xu hướng tăng trưởng đồng nghĩa với việc lợi thế kinh tế của công ty đủ mạnh để cho phép nó dành chi phí tăng thị phần thông qua quảng cáo hoặc mở rộng sản xuất, hay sử dụng các ứng dụng kỹ thuật tài chính như mua cổ phiếu quỹ.

Các công ty mà Warren tránh xa thường có một bức tranh lợi nhuận thất thường, xu hướng giảm, bị ngắt quãng bởi các khoản lỗ.  Warren biết rằng công ty này đang thuộc một ngành cạnh tranh khốc liệt có thể xảy ra bùng nổ và phá sản. Sự bùng nổ xảy ra khi cầu cao hơn cung, nhưng khi cầu quá lớn, công ty phải gia tăng sản lượng để đáp ứng nhu cầu, làm tăng chi phí và cuối cùng dẫn đến cung trong cả ngành bị thừa. Cung bị dư thừa làm cho giá giảm, đồng nghĩa với việc các công ty bị lỗ cho đến khi xuất hiện đợt bùng nổ tiếp theo. Có hàng ngàn công ty như thế, và các đợt biến động giá cổ phiếu rất mạnh gây ra bởi lợi nhuận thất thường của mỗi công ty, khiến cho những nhà đầu tư theo giá trị truyền thống ảo tưởng rằng đây chính là cơ hội để mua vào. Thực chất những gì họ đang mua là một chuyến tàu mất nhiều thời gian, chậm chạp mà không dẫn đến đâu cả.

(Nguồn sưu tầm)

GỬI BÌNH LUẬN BẰNG FACEBBOOK

BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ