Bài 2. Lý thuyết Dow trong phân tích kỹ thuật

Ý tưởng của Charles Dow, tổng biên tập đầu tiên của Tạp chí Wall Street, đã tạo thành cơ sở của phân tích kỹ thuật hiện đại. Do đó, nghiên cứu lý thuyết Dow rất có ý nghĩa trong phân tích kỹ thuật.

I. Các giả định của Dow

-Phần lớn chứng khoán tuân theo xu hướng cơ bản của TT

-Xu hướng cơ bản của TT được hiểu là “chỉ số bình quân”; ở VN là Vnindex và HNXindex, phản ánh xu thế chung của một số cổ phiếu đại diện cho TT

-TT chung luôn có ảnh hưởng đến mọi cổ phiếu

->>>> nghiên cứu VNINDEX

II. Sáu nguyên lý của DOW

Sáu nguyên lý của Dow bao gồm:

1. Giá phản ánh tất cả các hành động của TT

2. Thị trường có 3 xu hướng

3. giai đoạn của xu hướng chính

4. Khối lượng giao dịch xác nhận xu hướng

5. Diễn biến của giá xác nhận xu hương

6. Các chỉ số bình quân phải xác nhận lẫn nhau.

2.1. Giá phản ánh tất cả các hành động của thị trường 

Tất cả các thông tin từ: tăng trưởng GDP, lãi suất, lạm phát…tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, tin tức trên sàn, cung cầu trên thị trường, tâm lý nhà đầu tư, kiến thức nhà đầu tư… được phản ánh hết vào giá…

2.2. Thị trường có 3 xu hướng

TT chứng khoán có tính chu kỳ và lặp đi lặp lại. Theo DOW có 3 xu hương:

Xu hướng chính (cấp 1)

-Xu hướng trung gian (cấp 2)

-Xu hướng ngắn hạn (Cấp 3).

Cụ thể:

  • Xu hướng chính: Kéo dài hơn 1 năm…có thể là đầu cơ giá lên (bull market), hoặc đầu cơ giá xuống. đối tượng đầu tư theo xu hướng chính là các nhà đầu tư dài hạn.
  • Xu hướng trung gian: Là các biến động làm ngắt quãng xu thế chính theo hướng ngược lại; thời gian kéo dài từ 3 tuần đến nhiều tháng. Đối tượng quan tâm là nhà đầu tư ngắn hạn.
  • Xu hướng ngắn hạn: Là các biến động nhỏ trong phiên hoặc vài tuần.
3 xu hướng của thị trường

3 xu hướng của thị trường

2.3. Ba giai đoạn của một xu hướng chính

Xu hướng chính: đầu cơ giá lên hoặc đầu cơ giá xuống

A.Ba giai đoạn đầu cơ giá lên

A.1. Giai đoạn tích lũy:

– Đây là giai đoạn đầu của xu hướng tăng nên khó có thể nhận ra đây là đã bắt đầu xu hướng tăng chưa hay vẫn còn ở trong xu hướng giảm trước đó.

– Tâm lí tiêu cực bi quan của xu hướng giảm chính vẫn tiếp tục lan và thống trị luôn ở giai đoạn bắt đầu xu hướng tăng.

-Giai đoạn này thị trường giao dịch ít ỏi, tin tức thì xấu và giá trị của cổ phiếu thường thấp kỷ lục. Cổ phiếu thì rẻ, nhưng chẳng ai muốn sở hữu chúng.

-Giai đoạn này dòng tiền thông minh bắt đầu tích lũy cổ phiếu. Những người kiên nhẫn chấp nhận mua vào đầu tư dài hạn.

-TT âm thầm tạo đáy, bắt đầu tăng, có nhiều nghi ngờ và chưa tin là thị trường đã và đang khởi động tăng. Sau khi có một đợt sóng tăng và bắt đầu giảm lại, những kẻ nghi ngờ xuất hiện và cho rằng xu hướng giảm vẫn chưa kết thúc đâu.

Khi mọi người nhận ra được xu hướng chính mới bắt đầu thì thị trường đã đi một quảng khá xa.

A.2. Giai đoạn 2 tham gia của công chúng

– Giai đoạn 2 của giai đoạn xu hướng tăng chính thường là dài nhất, và giá tăng nhiều nhất.

-Giai đoạn này được đánh dấu bằng cải thiện trong các điều kiện kinh doanh,có các thông tin tốt về tinh hình kinh doanh,  giá chứng khoán tăng. Lợi nhuận tăng và niềm tin tràn đầy.

-Giai đoạn này xem như là giai đoạn dễ kiếm tiền và những người kinh doanh theo xu hướng cũng gia nhập thị trường.

A.3. Giai đoạn 3 Giai đoạn tăng tốc

-Thị trường giao dịch sôi động, công chúng lao vào giao dịch, giá tăng do sự kỳ vọng quá mức và đầu cơ

-Tất cả các tin tức tài chính đều tốt đẹp, giá tăng đột biến, các tin tức giá cả xuất hiện liên tục về trên trang đầu các mặt báo

-Tâm lý nhà đầu tư lạc quan cao độ, số lượng cổ phiếu các đợt phát hành thêm được đưa ra hàng loạt

-Khối lượng giao dịch vẫn tăng,

TT bắt đầu đạt đỉnh.

B.  Ba giai đoạn đầu cơ giá xuống

B.1. Giai đoạn phân phối:

-Nhà đầu tư có tầm nhìn xa bắt đầu nhận ra rằng lợi nhuận đã đạt đến mức đặc biệt cao, và những dòng tiền thông minh này bắt đầu bán cổ phiếu và rút tiền ra khỏi thị trường dần.

-Cộng đồng và mọi người vẫn còn tham gia vào thị trường, và vẫn hồ hởi mua vào.

-Ít có tin tức nào cho biết thị trường sắp sửa bước vào xu hướng giảm thật sự và điều kiện kinh doanh chung dĩ nhiên vẫn cảm thấy tốt.

– Do dòng tiền thông minh đã rút ra, không còn lực đỡ nên giá cổ phiếu bắt đầu giảm nhẹ, đánh dấu quá trình giảm giá bắt đầu.

-Khi cổ phiếu giảm giá, công chúng vẫn chưa nhận ra mà vẫn cho rằng chỉ là sự điều chỉnh của trend tăng dài hạn

-Sau khi giảm kha khá, thì có sự tăng hồi trở lại. Công chúng vẫn nghĩ là xu hướng chính vẫn còn và sẽ tăng ngày mạnh mẽ hơn.

-Tuy nhiên sự tăng hồi lại này vẫn không vượt qua được đỉnh cao cũ. Đỉnh hồi lần này thấp hơn và bắt đầu quay ngược lại giảm tiếp và giảm sâu hơn lần giảm trước.

-Lúc này mọi người mới nhận ra xu hướng giảm nhưng xu hướng giảm thật sự đã bắt đầu từ trước đó.

B.2. Giai đoạn giảm giá chính

-Giá cổ phiếu giảm mạnh và điều kiện kinh doanh cũng giảm, lợi nhuận giảm, doanh thu giảm, doanh nghiệp làm ăn khó khăn và cắt lỗ bắt đầu xảy ra…

-Số người mua giảm đáng kể, người bán thì mất bình tĩnh, một số người lo lắng nhưng không cắt lỗ.

-Thiếu thông tin hỗ trợ, các tin tức về tình hình kinh doanh ngày càng xấu đi và tràn ngập các mặt báo.

B.3. Giai đoạn bán bắt buộc

– Tất cả các hy vọng tiêu tan, công chúng mất niềm tin

Giá trị bây giờ rất thấp, nhưng mọi người vẫn tiếp tục bán và bán bằng mọi cách để thoát khỏi thị trường.

– Tin tức thì luôn luôn xấu, nền kinh tế thì ảm đạm và chẳng tìm ra người mua.

– Thị trường vẫn tiếp tục giảm cho đến khi những tin xấu đã được đưa hết vào giá. Một khi cổ phiếu đã phản ảnh hết cái xấu thì giai đoạn này xem như kết thúc và chuẩn bị chờ đón xu hướng tăng chính.

Biểu đồ cảm xúc theo xu hướng giá

Biểu đồ cảm xúc theo xu hướng giá

2.4. Khối lượng giao dịch xác nhận xu hướng

– Có thể nói đơn giản rằng, khối lượng giao dịch sẽ gia tăng theo hướng phát triển của xu huớng chính.

– Trong một xu hướng tăng, khối luợng giao dịch sẽ tăng khi giá tăng lên, và giảm khi giá giảm.

– Trong một xu hướng giảm, khối lượng giao dịch sẽ tăng khi giá giảm và giảm khi giá phục hồi mức tăng.

– Dow xem khối lượng giao dịch là một chỉ báo có tầm quan trọng thứ hai ngoài vieeccj quan sát những tín hiệu mua và bán dựa trên giá đóng cửa

2.5. Diễn biến của giá xác nhận xu hướng

– Dấu hiệu xu hướng tăng giá là khi vận động giá liên tiếp tạo ra các đỉnh cao hơn và các đáy cao hơn.

– Dấu hiệu xu hướng giảm giá là khi vận động, giá liên tiếp tạo thành các cặp đỉnh thấp hơn và cặp đáy thấp hơn

dấu hiệu hình thành và kết thúc trend

dấu hiệu hình thành và kết thúc trend

 

2.6. Các chỉ số bình quân phải xác nhận lẫn nhau

-Theo Dow các chỉ số bình quân ngành công nghiệp (industrial) và ngành giao thông vận tải (Transportation), phải củng cố lẫn nhau, cùng nhau xác nhận, cùng vận động.

– Ứng dụng ở VN là HNX và Vnindex phải xác nhận

3. Các phản biện dành cho Dow

3.1. Lý thuyết dow quá trễ

Điều này không quá quan trọng đối với thị trường phát triển. Nhưng đối với thị trường mới nổi như VN, thì điều này rất quan trọng. Biến động giá giảm mạnh trong 1-2 tuần có thể xóa hết các thành quả của NĐT.

3.2. Mối quan hệ giữa giá và KL không phải lúc nào cũng đúng:

-giá tăng mạnh+ khối lượng tăng mạnh rất dễ dính đỉnh; Giá giảm mạnh+ KL tăng mạnh>>> đáy

3.3.Khó trading trong giai đoạn sideway

(nguồn cophieuvietnam.com tổng hợp)

GỬI BÌNH LUẬN BẰNG FACEBBOOK

BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ