Bài 9: CHI PHÍ LÃI VAY

C h i phí lãi vay là phần tiền lãi dã chi trả, trong cả quý hoặc cả năm, cho số nợ xuất hiện trên bảng cân đối kế toán. Trong khi đối với các định chế như ngân hàng thì số tiền lăi thu được cố thể nhiều hơn sấ tiền chi ra, thì đa phần các doanh nghiệp sản xuất và bán lẻ phải trả rất nhiều tiền lãi so với phần tiền kiếm được.

Chi phí lãi vay

Chi phí lãi vay

Đây được gọi là chi phí tài chính, không phải ỉà chi phí từ hoạt động kinh doanh. Nó đứng độc lập, vì không bị ràng buộc vứi bất kỳ quy trình sản xuất hay bán hàng nào. Thay vào dó, tiền lãi phản ánh tổng nợ mà công ty dang có trong sổ sách. Công ty càng có nhiều nợ bao nhiêu thì sẽ phải trả nhiều tiền lãi bấy nhiêu.

Các công ty có chi phí lãi vay cao liên quan đến thu nhập từ hoạt động kinh doanh thường là một trong hai dạng: là công ty hoạt động trong một ngành có tính cạnh tranh khắc nghiệt, đòi hỏi nhiều chi phí vốn để duy trì tính cạnh tranh, hoặc là một công ty có lợi thế kinh tế quá tốt phải vay nợ khi bị công ty khác mua lại trong một thương vụ sáp nhập sử dụng nợ vay (leveraged buyout).

Warren đã chỉ ra rằng các công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững thường ít có hoặc không có chi phí lãi vay. Công ty có lợi thế cạnh tranh dài hạn Procter & Gamble chỉ phải dành 8% thu nhập từ hoạt động kinh doanh để trả chi phí lãi vay; Công ty Wrigley Co. trung bình phải trả 1%. Hãy so sánh hai công ty này với Goodyear, công ty sản xuất lốp xe thuộc ngành có tính cạnh tranh cao và đòi hỏi nhiều vốn. Trung bình Goodyear phải sử dụng 49% thu nhập từ hoạt động kinh doanh để thanh toán lãi vay.

Thậm chí đối với những ngành mang tính cạnh tranh cao như ngành hàng không, số tiền thu nhập từ hoạt động kinh doanh dùng để thanh toán lãi vay có thể được sử dụng để xác định các công ty có lợi thế cạnh tranh. Công ty có lợi nhuận ổn định Southwest Airlines chỉ dùng 9% thu nhập từ hoạt động kinh doanh để thanh toán lãi vay, trong khi đối thủ cạnh tranh đang trên bờ vực phá sản của nó, United Airlines, lại chi đến 61% thu nhập. Một đối thủ khác của Southwest đang gặp khó khăn, American Airlines, lại trả một tỷ lệ khác thường lên đến 92% thu nhập từ các hoạt động kinh doanh cho chi phí này.

Thông thường, tất cả các công ty có lợi thế cạnh tranh dài hạn mà Warren yêu thích trong ngành sản xuất hàng tiêu dùng đều có chi phí lãi vay thấp hơn 15% thu nhập từ hoạt động kinh doanh. Nhưng bạn cũng nên lưu ý rằng tỷ lệ này biến thiên rất lớn theo từng ngành. Chúng ta lấy ví dụ: Wells Fargo, ngân hàng mà Warren sở hữu 14% cổ phần, chi trả khoảng 30% thu nhập từ hoạt động kinh doanh cho lãi vay, có vẻ cao so với Coke, nhưng thực sự đây là tỷ lệ thấp nhất và hấp dẫn nhất trong sô” năm ngân hàng hàng đầu của Hoa Kỳ. Wells Fargo cũng là định chế duy nhất được St andard & Poor’s xếp hạng AAA.

Tỷ lệ chi phí lãi vay so với thu nhập từ hoạt động kỉnh doanh cũng có thể cho thấy mức độ nguy hiểm về kinh tế của công ty. Chúng ta lấy ví dụ về ngành ngân hàng đầu tư, trung bình có tỷ lệ chi phí lãi vay chiếm gần 70% thu nhập từ các hoạt động kinh doanh. Nếu xem xét kỹ thì chúng ta sẽ phải chú ý thực tế rằng năm 2006, Bear Stearns báo cáo tỷ lệ này là 70% thu nhập, nhưng vào quý cuối cùng của năm 2007, tỷ lệ này tăng vọt lên 230%. Điều này có nghĩa là công ty đã phải dùng cả vốn chủ sở hữu cho sự khác biệt này. Trong một ngành kinh doanh có hoạt động vay nợ cao như Bear Stearns thì điều đó có nghĩa là tai họa. Tháng Ba năm 2008, định chế một thời hùng mạnh Bear Stearns, vốn một năm trước đó đã có cể phiếu được mua bán với giá 170 USD, đã bị buộc phải hợp nhất với JP Morgan Chase & Co và cổ phiếu chì còn giá là 10 USD.

Quy luật ở đây thật sự đợn giản: Dù ở bất kỳ ngành nào thì công ty có tỷ lệ lãi vay phải trả so với thu nhập từ hoạt động kinh doanh thấp nhất cũng thường là công ty có lợi thế cạnh tranh. Theo Warren, đầu tư vào công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững là cách duy nhất để đảm bảo rằng chúng ta sẽ giàu có trong dài hạn.

(nguồn sưu tầm)

GỬI BÌNH LUẬN BẰNG FACEBBOOK

BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ